Thơ Văn


Điếu văn đưa tiễn thầy Nguyễn Thanh Liêm - Trần Vĩnh Trung

posted Sep 6, 2016, 10:31 PM by Mao Dang

Kính thưa các bậc trưởng thượng.

Kính thưa quý vị giáo sư và quan khách.

Kính thưa quý huynh đệ cựu học sinh Petrus Ký.

Kính thưa bà Nguyễn Thanh Liêm và tang quyến.

Thay mặt cho các đồng môn Petrus Ký miền Nam California, chúng tôi xin đựoc chia sẻ nỗi đau đớn với cô và gia đình trước sự ra đi vĩnh viễn của cố Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, người thầy đáng kính của chúng tôi.

Đây là một mất mát lớn lao cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại, cho các cựu học sinh các trường trung học Việt Nam, và cho gia đình của cố Giáo Sư, vì khi sống đối với quốc gia, cố Giáo Sư luôn quan tâm đến hiện tình đất nước, tranh đấu cho tự do dân chủ đến hơi thở cuối cùng.

Đối với gia đình, cố Giáo Sư là người chồng hiền hoà, mẫu mực, là người cha đáng kính, lo lắng cho các con. Đối với học sinh, cố Giáo Sư chủ trương đề cao tinh thần “Tôn Sư Trọng Đạo” nên khi ra đi cố Giáo Sư đã để lại một di sản quý báu cho mọi người rất đáng ngưỡng mộ và hãnh diện.

Xin cô và tang quyến bớt bi lụy đau buồn, hãy cầu nguyện để hương linh Phật tử Quảng Trí Thanh ung dung tự tại nơi miền cực lạc. Nhất là cô và gia đình hãy giữ gìn sức khoẻ, giúp chúng tôi tiếp nối những viêc làm cố Giáo Sư còn bỏ dở.

Nay xin phép cô, gia quyến, và quý vị cho chúng tôi có đôi lời tiễn biệt với cố Giáo Sư, vị thầy mến yêu của chúng tôi.

Kính thưa thầy,

Tiếng thầy nghe thân thương và quen thuộc với tình thầy trò mình đã gắn bó suốt mấy mươi năm. Dù biết rằng đời là vô thường và sự ra vào nhà thương như cơm bữa của thầy gần đây khiến chúng em biết sẽ có ngày hôm nay, nhưng sự ra đi của thầy vẫn làm chúng em vô cùng đau xót. Từ nay còn đâu những buổi họp mặt vui vẻ, những buổi cơm thân mật tràn đầy tiếng cười, ấp đầy những lời dạy bảo.

Chúng em vẫn nhớ ngày xưa trong những giờ hoc Việt Văn, thầy đã khéo léo dùng thơ Nguyễn Công Trứ để khuyên dạy chúng em làm người mà chúng em vẫn còn khắc ghi trong tâm khảm.

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

Và trong mỗi kỳ họp mặt vớí Hội Aí Hữu Petrus Ký thầy thường nhắc nhở tới hai câu đối trước cổng trường mình.

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm

Thầy đã làm tròn nhiệm vụ của người thầy với học trò, của người trai nước Việt, một công dân gương mẫu với tổ quốc Việt Nam.

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.

Cho nên học trò thầy đa số đều thành đạt, không thành danh cũng thành nhân, làm rạng danh thầy rồi. Sống là gửi, thác là về, thầy hãy yên tâm thanh thản ra đi về vùng đất mẹ, về Mỹ Tho bên giòng sông Cửu Long êm ả thanh bình.

Thầy đã lìa xa chúng em đúng ngày rằm tháng bảy, ngày Đại Lễ Vu Lan mà các Phật tử, các chùa chiền đã dùng lời kinh tiếng mõ chú tâm cầu nguyện cho các vong nhân. Rồi đây trong mùa Báo Hiếu hằng năm danh sách được cầu siêu độ sẽ có thêm tên thầy: Phật tử Quảng Trí Thanh. 

Thầy thương yêu ơi,

Cảm ơn thầy khi sinh tiền đã răn dạy chúng em không những duới mái trường trung học mà còn ở trường đời, nay dù thầy đã ra đi nhưng những kỷ niệm, những lời dạy dỗ khuyên lơn của thầy sẽ là kim chỉ nam, là ngọn đuốc hướng dẫn chúng em sống sao cho phải đạo làm người ở cõi ta bà nầy.

Xin vĩnh biệt thầy. 

Kính chào toàn thể tang quyến và quý vị. 

Trần Vĩnh Trung

Hội Phó, Đại diện Hội Ái Hữu Petrus Ký Nam California

Westminster, ngày 4 tháng 9 năm 2016

Vài Hàng Về Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm (từ báo Người Việt)

posted Aug 23, 2016, 11:07 PM by Mao Dang


Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm. (Hình: petruskylhp.org)

IRVINE, California (NV) – Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm vừa qua đời lúc 1 giờ 50 phút chiều Thứ Tư, 17 Tháng Tám, tại bệnh viện Kaiser, Irvine, bà Nguyễn Thị Phương, hiền thê của ông xác nhận với nhật báo Người Việt.

Bà Phương cho biết, Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện tối Chủ Nhật, sau khi thấy mệt trong người, và không đi tiểu được.

Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là cựu hiệu trưởng trường trung học Petrús Ký, và là sáng lập viên Lê Văn Duyệt Foundation.

Ông vừa cho ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” tại Little Saigon hôm 6 Tháng Tám.

Trong buổi ra mắt này, cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng, một người cùng thế hệ với giáo sư, cho biết, ông Liêm là người miền Nam gốc Mỹ Tho trong một gia đình khá giả có điền sản nên được ăn học đến nơi đến chốn. Ông tốt nghiệp thủ khoa trường Cao Đẳng Sư Phạm Sài Gòn, cử nhân giáo khoa văn chương, và tiến sĩ đại học Iowa State University, Hoa Kỳ. Giáo Sư Liêm cũng là một nhân viên hành chánh cao cấp của VNCH, từng là hiệu trưởng nhiều trường trung học, chuyên viên hạng I Phủ Tổng Thống (ngang bộ trưởng), và thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên.

Cựu Đốc Sự Châu Văn Để, trưởng ban tổ chức buổi ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm, cho biết: “Tuổi trẻ Việt Nam trong nước cũng như tại hải ngoại biết đến Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là một nhà văn hóa, dĩ nhiên, nhưng khi họ đọc qua những tác phẩm của ông, họ thấy ông không những là một nhà văn ‘đa hiệu’ mà còn là một nhà thơ chan chứa tình dân tộc.”

Ông Để cũng nhắc đến những hoạt động rất hăng hái của giáo sư trong các phạm vi văn hóa, văn học và cùng chung vai sát cánh với những tổ chức tranh đấu trong cộng đồng để mong cho đất nước và dân tộc Việt Nam được sống no lành, an vui hạnh phúc.

Giáo Sư Liêm không chỉ tham gia vào các hội giáo chức, cổ nhạc, đền Hùng… mà còn đích thân thực hiện nhiều công tác khó có ai bì kịp như việc lập ra tổ chức Lê Văn Duyệt Foundation, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, thành lập và xuất bản tạp chí Đồng Nai-Cửu Long rất giá trị. Trên phương diện truyền thông, giáo sư cũng chăm chút các chương trình do chính ông thực hiện, cùng các hoạt động chính trị khác trong cộng đồng, ví dụ như đã hợp lực với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.

Ông Để cho biết, Giáo Sư Liêm sinh ngày 21 Tháng Mười Một, 1933. (Đ.D.)

Nói Tiếng Anh

posted Jul 16, 2016, 7:15 PM by Mao Dang   [ updated Jul 17, 2016, 12:23 AM ]

Lúc mới sang xứ người, mọi chuyện thật lạ lẫm. Cảnh vật, chốn ở, thời tiết, đường xá, con người, hàng quán, thức ăn, tất cả đều mới mẻ. Nhưng nhiêu khê nhất là ngôn ngữ. Tác giả Captovan LPK đã thuật lại đọan trường học  và nói tiếng Anh bắt đầu từ đâu... Xin mời độc giả theo dõi ...

*****

_ “ Anh kia, anh đọc tài niệu phản động gì đấy, đưa tôi xem lào”.

Đó là tiếng quát của Nguyễn Văn Hoạt, một trong những tên cai tù độc ác và ngu dốt nhất của trại tù A Xuân Lộc, chuyên viên hành hạ tù nhân với bất cứ lý do gì, vừa hỏi xong là hắn đi thẳng đến chỗ anh em chúng tôi ngồi, khiến tôi bối rối không kịp nuốt miếng giấy có vài câu tiếng Anh.

Mỗi sáng Chủ Nhật, ba anh em tôi gồm Doãn Thiện N, Lê Xuân S, và tôi ra góc sân trại giam ngồi, giả bộ tắm nắng, gãi ghẻ, bắt rận nhưng thực ra là để học tiếng “Mỹ chống đói”, dùng que làm bút viết xuống mặt cát những chữ mới học được ở một mảnh giấy gói quà tiếp tế của ai đó vô tình vất trong góc buồng giam.

Với chính sách khoan hồng nhân đạo của “kách mệnh” là các “cải tạo viên” sẽ được trở về xum họp với gia đình khi nào học tập tiến bộ thì tôi sẽ ở tù mục xương nên việc học dăm ba chữ Mỹ nào có ích gì cho tương lai! Nhưng có lợi cho hiện tại là tránh xa được giới “thượng lưu” họ đang “ca cóng”, xì xụp nấu nướng ăn uống mỗi khi đi lao động về, nhất là những ngày Chủ Nhật, cai tù thường làm bộ đi ngang kiểm soát cũng ghé vào nếm chút chút cho biết mùi đời, còn đám “hành khất” chúng tôi ngồi gãi ghẻ ở góc sân thì tụi cán bộ nó không dám đến gần.

Tiếng Mỹ là thứ tiếng nước ngoài bị cấm ngặt trong tù CS, nên chúng tôi giả dạng gãi ghẻ, ngồi viết lên cát rồi xóa đi ngay, cốt cho quen tay và nhớ trong đầu, ít ai để ý trừ những tên ăng-ten, và hôm nay bị bắt tại trận khi tôi đang nhìn vào mảnh giấy vụn có ít chữ Mỹ hay Anh gì đó. Nghe tên Hoạt hỏi, tôi nắm chắc sẽ bị còng và nhốt ngục tối, sẽ bị đói cơm nhưng được no đòn. Sau khi lật qua lật lại miếng giấy, hắn nạt nộ:

_ “Ai cho phép anh học tiếng nước ngoài? Tội sẽ bị, cùm anh biết không?”
_ “Thưa ngày đầu tiên mới chuyển từ Vĩnh Quang về đây, cán bộ có dặn thật cẩn thận là cấm học tiếng Mỹ, chúng tôi lúc nào cũng chấp hành nghiêm chỉnh lệnh, còn đây là miếng giấy vụn có vài chữ Ăng-Lê ấy mà, vả lại loa phóng thanh của trại sáng nay cũng loan tin chính phủ ta và Ăng-Lê vừa ký một hiệp ước song phương, trong đó Ăng-Lê có bổn phận phải cung cấp cho nhà nước ta một triệu tấn bột mì, hai ngàn con bò sữa, nhà nước ta tặng lại nữ hoàng một lũ “hầu”.

Tôi cố tình nói láí câu chuyện ra cái điều có theo dõi tin tức trên loa phóng thanh của trại để tránh bị nó hạch hỏi lôi thôi, dễ bị nhốt như chơi. Đây là kinh nghiệm của anh Nguyễn Văn Trọng, chuyên viên học chữ Đức đã thoát nạn nhờ mánh này, quả đúng như vậy, hắn nghe tôi nói tới “Ăng-Lê” rồi nhìn kỹ lại mảnh giấy cho có vẻ ta cũng biết…rồi đưa lại tôi:

_ “ Học tiếng Ăng-Lê thì được, cấm học tiếng Mỹ phản động nghe không”.

Chả hiểu hắn ta phân biệt tiếng Ăng-Lê, tiếng Anh, tiếng Mỹ phản động khác nhau chỗ nào. Nhưng với tôi thì hai chữ “Anh và Mỹ” chắc chắn là khác nhau rồi, một đằng bắt đầu bằng nguyên âm A, một đằng bằng phụ âm M.

Tuy hắn không cấm học tiếng Ăng-Lê nhưng chúng tôi cũng phải ngưng chương trình học tiếng Mỹ ngay, nó ngu nhưng chú ăng-ten của nó khôn, cái gương trước mắt còn đó, khi anh Đỗ Văn Minh phát biểu trong buổi tọa đàm rằng: “ bác Hồ là vĩ nhân” thì ai đó đã giải thích cho Hoạt rằng theo nghĩa chữ nho thì vĩ là đuôi, nhân là người, tên Minh đã cố tình dùng chữ nho để sỉ nhục lãnh tụ, dám gọi “bác” là cái đuôi của con người, thế là Minh bị nhốt trong cũi sắt nửa tháng!

Nếu ăng-ten lại vẽ rồng vẽ rắn cho hắn biết là bị chúng tôi lừa, bị chúng tôi chê là ngu thì chắc chắn Hoạt sẽ phạt chúng tôi tàn khốc chi đao ngay. Nay được tự do sống trên đất Mỹ mà học tiếng Anh thì chắc cũng không ai cấm, không ai nỡ bắt bẻ nếu tôi không hiểu giữa Mỹ và Anh có những chữ nghĩa khác nhau.

Thực ra thì từ hồi còn bé, chúng tôi đã nói thông thạo tiếng Anh mà không biết rằng mình nói tiếng Anh. Này nhá, đám trẻ tụm lại, tay nắm chặt rồi nhịp nhịp, đứa ra cái búa, đứa ra cái kéo, đám con trai khoe cái ...dùi thì mấy cô bé thường thích xòe bàn tay làm tờ giấy trắng, miệng líu lo “Oẳn Tù Tì” . Đó là nói thông thạo tiếng Anh đấy chứ ? Tuy phát âm không được chỉnh lắm của những tiếng one, two, three khi chúng tôi học đếm số “một, hai, ba” chứ còn gì nữa.

Khi đến tuổi cắp sách tới trường, chương trình Anh Văn cho các lớp tiểu học vẫn là “oẳn tù tì” trong giờ ra chơi. Khi được vào học trung học Petrus Ký, tôi mới biết thằng Jack con Jane trong L’anglais Vivant xít-dèm-lơ với những câu lạ tai:

Who is this? This is Jack, Jack is a boy, boy is a person.
Who is this? This is Jane, Jane is a girl, girl is a person.

Trong thời gian mài ghế nhà trường Petrus Ký, tôi được học Anh Văn đầu tiên với thầy Đồ, sau đó đến thầy Thái (xin lỗi hai thầy, con không nhớ chắc tên họ của hai thầy nên không dám viết ra). Thầy Đồ không cho học trò nói tiếng Việt trong giờ thầy dậy, vì vậy muốn hỏi điều gì thì phải đưa tay lên và hỏi bằng tiếng Anh! Khổ ơi là khổ, thà ngậm miệng còn hơn bị xấu hổ, cho đến bây giờ, hơn nửa thế kỷ sau, tai tôi vẫn văng vẳng câu tiếng Anh thầy nhắc nhở học trò: “if you want, put ut your hand” (tôi không nhớ rõ, có thể là put your hand up).

Thầy Thái sắc diện luôn “hồng hào” và tóc lúc nào cũng chải “brillantine” bóng láng, thầy bắt các học trò tự thực hiện một cuốn tự diển Anh-Việt, nghĩa là thầy bắt các trò viết lại tất cả những chữ khó ở sau cuốn “six-dèm”, ghi cả phần phiên âm quốc tế rồi tìm nghĩa tiếng Việt mà ghi vào. Kết quả thấy rõ là có một số ngữ vựng kha khá, nhưng nói thì..!

Cứ thế mà học cho tới khi lớn lên, “Jack is a man và Jane is a woman” thì cái vốn tiếng Anh của chúng tôi cũng chưa ra khỏi cuốn “xít-dèm- lơ”. Rồi Jack tới tuổi đi quân dịch thì tình nguyện đi lính TQLC, Jack bỏ học tiếng Anh, chăm chỉ học nói tiếng “Em” sao cho nói thật thông thạo, êm dịu ngọt ngào với hy vọng tương lai tươi sáng nhờ vợ. Chưa thông thạo tiếng “Em” thì em Jane đi lấy chồng đúng lúc cố vấn Mỹ vào giúp đồng minh, Jack bỏ học tiếng Em, bập bẹ mấy câu chửi thề tiếng Mỹ, chưa thông thì Mỹ lại bỏ đi!

Sau 10 năm dùi mài kinh sử và búa rìu trong trường đại hộc-máu, nội quy của trại giam CS cấm học tiếng Mỹ nhưng không cấm tù học tiếng Ăng-Lê nên ngày trở về tôi cũng được “trong bụng lam nham ba lá sách”, nhớ được một mớ ngữ vựng, đem ráp nối lại thành câu để làm kế sinh nhai.

Sau khi chương trình Ô-đi- ghe thành công phát sinh chương trình ODP, thế là người người đi học, nhà nhà đi học, trăm hoa đua nở trau dồi tiếng Mỹ, “nhà nước ta” cho mở các trung tâm học tiếng Mỹ, giáo sư sinh ngữ trở lên khan hiếm, các gia-sư tự phát khắp nơi, đa số gia-sư tiếng Mỹ đều là những anh em cựu tù, cựu quân nhân, một số nguyên là cựu giáo viên trường sinh ngữ quân đội trước năm 1975, hoặc một số đã từng đi du học các khóa quân sự căn bản ở bên Mỹ, họ chạy sô kiếm chút cơm gà cá gỏi cũng dễ dàng. Anh bạn cùng đơn vị cũ là Trần Quang Duật đang dậy ở trung tâm Lê Quý Đôn khuyên tôi nên bỏ đạp xe, theo anh đi dậy, đỡ vất vả hơn, có học trò gọi là thầy khoái hơn là tiếng gọi: “Ê, xích-lô”.

Tôi cũng muốn lắm nhưng nghĩ lại thấy hơi kỳ, ngày đạp xích lô, sau lưng giắt cuốn “English 900”, tối về đi học thêm lớp Anh văn đàm thoại với thầy Phát, vốn liếng chỉ có thế mà bỏ lao động chân tay đi làm thầy thì liều quá, nên tôi cám ơn lòng tốt của Duật mà tiếp tục làm “dân biểu”, dân biểu chạy đi đâu thì đi đó.

Rồi một hôm tôi đậu xe xíc-lô tại góc đường Lê Văn Duyệt và Nguyễn Du Saigòn, nơi đây có trung tâm dịch vụ lo giấy tờ xuất cảnh, tôi thường lai vãng đến đó nghe ngóng tin tức và đón khách, trong khi chờ khách thì mở sách “English 900” học thuộc lòng dăm ba câu. Một thân chủ thuê tôi chở thấy tôi đọc sách tiếng Anh bèn nhờ dịch dùm tờ LOI, gọi nôm na là thơ giới thiệu (letter of introduction).

Tưởng gì khó chớ thứ này thì tôi thuộc lòng vì tôi cũng đang có một tờ trong túi, LOI được coi như một lá bùa hộ mệnh của mấy anh Ho-hen. Nhờ dịch không sai còn kèm theo lời bàn “có hậu” của chương trình ODP mà tiền đạp xe được tăng gấp ba, lại còn được khách đi xe mời làm gia-sư cho cậu con trai 12 tuổi với thù lao khá, tôi uống thuốc liều nhận lời.

Một thầy một trò, kèm sinh ngữ cho một bé trai 12 tuổi thì không có gì khó khăn, cứ theo phương pháp truyền khẩu, đem những câu mình đã biết, bắt chú nhỏ học thuộc lòng, không có thắc mắc, không có văn phạm văn phiếc gì lôi thôi. Kết quả “ba tháng là trông thấy liền”, học trò của tôi đã bi-bô biết chào, biết nói những câu thông dụng, dĩ nhiên là phát âm đúng giọng…Vietnamese 100%, không sao, mọi người đều thế cả, nào phải chỉ riêng mình ta đâu.

Rồi một ngày đẹp trời, cô Kim Oanh, mẹ chú nhỏ, đề nghị tôi mở thêm một lớp nữa cho cô và mấy người bạn của cô. Tôi thực sự lo, thù lao thì hấp dẫn đấy, nhưng nếu lộ tẩy cái vốn nghèo nàn thì nguy hiểm quá. Sau khi khảo sát trình độ, thấy mẹ không hơn con bao nhiêu tôi nhận lời luôn, thù lao hai lớp hơn gấp nhiều lần nghề đạp xích-lô nên tôi từ chức “dân biểu”, không phải dân biểu làm cảnh ở tòa nhà quốc hội, mà đúng nghĩa là tay sai của dân, dân gọi là dạ liền tay.

Nhớ lại khi xưa học Pháp Văn với thầy Phạm Văn Ba ở trường Petrus Ký, thầy nói cái gì thuộc về đàn ông thì là giống đực, tôi thắc mắc hỏi thầy tại sao cái mà đàn ông mang vào cổ không là đực mà lại là giống cái, cái ca-vát, “la cravate”, còn thứ đàn bà cầm trong tay lại là giống đực “le sac”? Thầy rầy tôi là đồ ngu, học ngoại ngữ là học thuộc lòng, học như con vẹt, không có hỏi tại sao. Tôi đem kinh nghiệm này vào nghề dạy tiếng Ăng-Lê cho mẹ con cô Oanh và các bạn cô.

Tuy vẫn áp dụng phương pháp học truyền khẩu, nhưng với ngưới lớn, nhất là những người phụ nữ đẹp thì phải coi chừng, soạn bài cẩn thận, nếu có bị hỏi móc họng, hỏi ngang xương thì còn biết đường mà trả lời, tốt nhất là có sẵn một số câu tủ, nếu rủi có bị học trò hỏi khó thì “đánh trống lảng”, mang những câu tủ ra “hù”, những gia-sư chuyên nghiệp như Vấn Vẩu bật mí điều bí mật đó cho tôi.

Ngoài phương pháp truyền khẩu, bắt học thuộc lòng, tôi còn mang những bí quyết mà thầy Phát dậy tôi hôm trước, hôm sau đem áp dụng ngay, nhờ vậy học trò thuộc bài mà tôi cũng được thầy Phát khen là siêng học! Thầy đâu có biết tôi cũng đang âm thầm làm “đồng ngiệp “ với thầy.

Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, không ngờ áp dụng cách học thuộc lòng, trò nào không thuộc sẽ bị phạt là bắt viết lại bài đó 10 lần, “phương pháp Mỹ, kỷ luật Việt” như chương trình quảng cáo của trung tâm XYZ ở Bolsa. Kỷ luật khó vậy mà tiếng lành đồn xa, không có tiếng dữ nên tôi lại có thêm lớp thêm trò, có thêm lớp là tôi cũng phải siêng “học” hơn, càng ngày tôi càng tiến bộ về mặt ngữ vựng. Vừa làm trò và vừa làm thầy được một thời gian thì có chương trình HO, tôi đành phải bỏ lại những cô học sinh xinh như mộng mà xách gói ra đi!

Khi tới Mỹ tôi xin theo học lớp ESL, sau bài thi trắc nghiệm để xếp lớp, tôi hãnh diện “được” xếp vào lớp có trình độ khá trong khi các bạn VN khác đều vào lớp thấp hơn. Những ngày đầu đến trường, tôi thường “vênh” mặt với các bạn đồng hương! Họ có vẻ phục tôi thật! Gặp những chữ khó, họ thường hỏi tôi thay vì hỏi thầy trong lớp, nhưng chính tôi lại đang gặp trở ngại khá lớn về đàm thoại, nói và nghe với thầy Mỹ chính cống.

Khóa sinh trong lớp tôi đều là người Nhật và Trung Đông, họ giao tiếp, chuyện trò với giáo viên làm tôi ngạc nhiên, họ hiểu nhau dễ dàng thoải mái, nhưng riêng cá nhân tôi thì cố gắng chăm chú lắm mới hiểu lời giảng, còn thầy thì “ú-ớ” khi nghe tôi nói, rất nhiều lần tôi phải viết lên giấy câu tôi muốn hỏi. Thầy gật gù cái đầu khen tôi “do a good job” nhưng phát âm thì “tầm bậy” nên bắt tôi uốn lưỡi theo thầy. Từ đó tôi ngại nói và thẹn thùng mỗi khi tới phiên đàm thoại với đồng môn, nhờ có sẵn vốn ngữ vựng, cứ dịch từ tiếng Việt sang tiếng Mỹ, tuy
tôi nói cũng “lưu loát” lắm nhưng sao họ không hiểu gì cả, như vậy là họ “tối dạ” thật chứ đâu phải tôi dốt! Tự ái dân tộc bị va chạm, tôi bỏ học ESL và đi làm, đây là nguyên nhân chính khiến cho tới ngày nay, tuy là người Mỹ nhưng tôi không hiểu tiếng “nước tôi”, gặp nhiều khó khăn trong giao tế và công việc.

Người bạn cùng đơn vị, đang làm nghề bỏ báo buổi sáng và giao pizza Domino buổi tối hướng dẫn tôi vào nghề. Tôi đi giao pizza, làm được ba tuần thì bốn lần giao bánh trễ, khách hàng cự nự, cố gắng giải thích nhưng họ không hiểu và không thông cảm lại còn “cờm-lên” nên quản-lý nên tiệm pizza cám ơn tôi với lý do không chịu “nghe lời”. Có hiểu đâu mà nghe!

Tìm được job mới, từ Wesminster vượt qua 4 xa lộ (22, 405, 605, 5) đến làm cho hãng laundry trên El Monte, hãng này chuyên giặt quần jean, quần áo vải thô cho vào máy, trộn với đá bọt và hóa chất, sản phẩm cho ra màu đậm lợt hoặc trắng là tùy thuộc vào thời gian máy quay và loại hóa chất, công việc nặng nhọc vô cùng, làm được vài tháng, cả ngày tiếp xúc với đá với nước và hóa chất, quần áo ướt, sinh ghẻ, tôi có ý định xin nghỉ việc. Chủ hãng là người Việt gốc Hoa rất hiền lành và tốt bụng, nhân công hầu như 100% nói tiếng Spanish, có lẽ chủ thấy tôi chịu khó, lại bập bẹ được ít tiếng Mỹ, tiếng Pháp, tiếng Tàu, ít tiếng Mễ nên chủ thương tình giữ lại giao cho việc nhẹ hơn, làm “mê-kết- tinh”.

Trình độ nghe và nói tiếng Mỹ tuy không cao hơn đầu gối, nhưng một ít tiếng Pháp còn sót lại từ ngày học với thầy Phạm Văn Ba ở Petrus Ký, trộn với tiếng Mỹ là tôi có ít tiếng Mễ, có thể cãi nhau bằng tiếng Mễ với đồng nghiệp nên tôi được chủ hãng ưu ái là phải rồi! Biết nhiều thứ tiếng là có lợi thấy rõ.

Nhiệm vụ mới chẳng nhàn hạ gì so với mức lương tối thiểu nhưng thoải mái hơn, hằng ngày tôi lái xe khắp vùng Los Angeles, từ 100 đến 150 miles để giao và nhận mẫu hàng từ các hãng Guess, Bongo, Guilty, Infinity v.v.. Họ giao cho một ít quần áo vải thô, đem về giặt theo mẫu, nếu đạt đúng tiêu chuẩn, các hãng trên sẽ giao hàng loạt từ mấy ngàn đến hàng chục ngàn quần áo cho laundry giặt, xem ra công việc của tôi cũng quan trọng lắm đấy chứ! Gặp những trường hợp rắc rối, cần nói và thảo luận nhiều thì tôi yêu cầu họ ghi rõ chi tiết ra giấy để tôi trình cho chủ hãng giặt của tôi để khỏi gặp trở ngại, thực ra là tôi không hiểu rõ họ nói gì nhiều nên mới vẽ chuyện bắt họ ghi ra giấy..

Với công việc tương tự, ở các hãng khác trả lương khá hơn, tôi đã nạp đơn, sau nhiều lần phỏng vấn, có lẽ do “ông nói gà, bà nói vịt”, họ hỏi một đàng tôi trả lời một nẻo nên tôi vẫn nhận được lời “cám ơn”, đành bám trụ hãng cũ cho tới ngày hãng đóng cửa. Là người Mỹ không biết nói và nghe tiếng Mỹ thì thiệt thòi biết chừng nào! Chỉ vì trong bụng “lam nham ba lá sách” nên mài sừng cho lắm vẫn là trâu! Trâu vẫn hoàn Trâu (Điên)

Việc làm! Thất nghiệp! Hai cái lăng nhăng nó quấy ta quanh năm ngày tháng cũng chỉ vì “học đã sôi cơm, nhưng chửa chín”, học không đến đòng đến đũa, cứ tưởng mình biết nhưng thực ra mình chẳng biết gì cả. Sau khi tôi tham dự một lớp học chuyên môn trong thời gian thất nghiệp mới nhận ra điều đó.

Học với thầy Mỹ, họ bắt mình nhấn đầu nhấn đuôi khi phát âm mỏi cả lưỡi, rồi có “lai-sần”, tôi xin được cái job ở học khu Ocean View sau nhiều lần thi viết và phỏng vấn. Vẫn là lao động chân tay, tay búa tay kìm với cái nghề “minor repair”, sửa bàn sửa ghế, thay bóng đèn, sơn phết v.v. nhưng lương cao so với khả năng những người có văn bằng “HO” và nhất là “không có gì quý hơn tự do”, việc làm và thời gian rất là “flexible”, một mình dắt theo cô Trúc (xe truck) thăm viếng các trường học trong học khu.

Bài này không có ý nêu lên những khó khăn và kinh nghiệm đi xin việc làm trên đất tạm dung mà chỉ đưa ra những khuyết điểm cá nhân về việc học nói và nghe tiếng Mỹ. Nếu như tôi không hợm mình thì bỏ học lớp ESL cao mà xin xuống lớp thấp hơn để học thêm về phát âm thì đã không gặp quá nhiều khó khăn cho tới ngày nay.

Câu nói “không thầy đố mày làm nên” quá đúng khi học tiếng Mỹ với thầy bản xứ, nghĩ lại thật xấu hổ khi xưa cũng làm thầy đi dạy tiếng Anh! Không biết những người học trò của tôi hiện đang định cư ở Wichita như các cô Kim Oanh, Kim Yến, Linh Chiêu, các cháu Trang, Hằng, Liễu còn diễu gọi tôi là thầy “lưỡi gỗ” nữa hay không? Hy vọng các cô và các cháu không bị nhiễm bệnh phát âm sai của tôi, phát âm sai tất nhiên không ai hiểu mình và mình cũng không hiểu người bản xứ nói gì.

Sống trên đất Mỹ đã hơn hai chục năm mà tôi vẫn như người cà-răng, đóng khố, lưng đeo gùi đi trên đường phố Saigòn! Và cho tới khi về “quê thật” cũng vẫn thế thôi, tre non còn uốn được, ai uốn được lưỡi gỗ bao giờ! Cái khổ là chính cái lưỡi gỗ không tự biết mình mà lại dạy con trẻ đẻ trên đất Mỹ nói tiếng Mỹ.

Đầu đuôi là thế này, nay tôi đã hưu nên chăm sóc các cháu nội ngoại, tuổi thơ bập bẹ nói thì tôi lại cũng “bập bẹ” nói tiếng Mỹ giọng Việt với các cháu thay vì nhiệm vụ thiêng liêng là nói tiếng Việt, dạy các cháu nói tiếng Việt. Cái mong ước ngớ ngẩn của tôi là dạy các cháu dăm ba câu tiếng Mỹ trước khi các cháu tới tuổi đi học, khi đó vào lớp thầy cô giáo nói các cháu đã hiểu rồi.

Nhưng tới tuổi đi học mẫu giáo, sau vài tháng, các cháu líu lo ca hát kể chuyện những điều thầy cô dạy, dĩ nhiên bằng tiếng Mỹ, khiến tôi ú ớ, không hiểu các cháu nói gì. Tôi cố lập lại bằng tiếng Mỹ những điều cháu nói thì cháu bảo:

_ “Ông nói sai”.

Ô hô! Ai-tai! Hình như xung quanh đâu đây cũng có một số ông bà nội ngoại sính nói tiếng Mỹ giọng Việt đả tưởng ta giỏi nên bày đặt dạy tiếng Mỹ cho các cháu nhỏ như tôi, thay vì tiếng Việt! I “can” you.

Đừng lo các cháu không biết nói tiếng Mỹ, hãy cố dạy cho các cháu nói tiếng Việt đi, được chừng nào hay chừng đó. Tôi có mấy cháu nhỏ nói tiếng Việt thông thạo như ngừoi lớn, nhưng chỉ sau một năm đi học là các cháu nói lưu loát tiếng Mỹ mà quên dần tiếng Việt. Nhưng có còn hơn không, dẫu các cháu không nói thạo tiếng Việt thì cũng hiểu được chúng ta nói gì. Đó là niềm an ủi.

Hãy giúp tôi làm cách nào, trong giao tiếp hằng ngày, người Mỹ hiểu rõ những gì tôi nói và tôi hiểu họ nói gì, coi TV hiểu được phần tin tức, không mơ ước cao xa để hiểu được phần đối thoại trong phim. Thật phục thấy mấy người bạn tôi vỗ tay và cười thoải mái khi nghe người Mỹ kể chuyện tiếu lâm trên Radio, hoặc coi phim diễu trên TV, bạn tôi khuyên rằng muốn đạt đến trình độ đó thì trước tiên là phải học nói sao cho nhuyễn tiếng “Gùao, Gow” mỗi khi muốn chứng tỏ sự ngạc nhiên, bước kế tiếp là phải biết “nhún vai” khi có ai hỏi điều gì mà mình bí-lù. Nhún vai cho thật điệu nghệ, dù hiểu hay không hiểu thì .. một cái nhún vai bằng hai ba tiếng giải thích, người đối thoại sẽ phục mình sát đất.

Cám ơn lời khuyên vô cùng vô ích và huề vốn của chuyên viên ngôn ngữ quốc tế./.

Captovan LPK 55-62

Cái Nhà Của Ta - Lê Trực

posted Jul 10, 2016, 6:54 PM by Mao Dang   [ updated Jul 17, 2016, 12:50 AM ]



Tình Sư-Huynh-Đệ Pétrus Trương Vĩnh Ký

posted Jul 9, 2016, 7:37 PM by Mao Dang   [ updated Jul 16, 2016, 11:59 PM ]

 Trên đây là hình chụp các Sư-Huynh-Đệ trường Petrus Trương Vĩnh Ký trong buổi họp mặt vào ngày 7/2/2015 để kỷ niệm 40 năm tỵ nạn, để Sư-Huynh-Đệ gặp gỡ nhau và nhắc với nhau rằng dù cho cuồng “phong” gió chướng đã thay tên đổi họ ngôi trường thân yêu nhưng tinh thần tôn sư trọng đạo, tinh thần L.P.Ký vẫn mãi mãi trường tồn. Tinh thần ấy thể hiện ngay trong tấm hình, các sư ngồi trước, các huynh đứng sau và sau nữa là các đệ.

Xin bấm vào link ở dưới để đọc hết bài.

Nguyễn Xuân Hoàng, Nhà Văn Lững Thửng Trong Đời - GS Nguyễn Văn Sâm

posted Jul 9, 2016, 4:55 PM by Van Duong   [ updated Jul 10, 2016, 7:51 PM by Mao Dang ]

      
Chúng tôi quen nhau khi cả hai cùng dạy môn Triết ở năm cuối Trung học tại trường Petrus Ký Sàigòn cuối thập niên 1960. Ngoài giờ dạy, Hoàng ít xuất hiện ở trường, anh bận bịu lo chuyện bài vở cho tờ tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng ở đường Phạm Ngũ Lão, anh dạy tư nhiều nơi. Tôi rảnh rang hơn vì ngoài giờ dạy chẳng làm gì khác hơn là lo cho xong cái Cao Học mà cha Thanh Lãng luôn hối thúc phải hoàn thành. Thỉnh thoảng lái xe vô trường, ghé phòng Giáo Sư kiếm người đánh cờ tướng, tôi gặp Hoàng loáng thoáng giữa những giờ đổi lớp. Chúng tôi chào nhau, thân thiện nhưng không thân thiết. 


Rồi cả lứa chúng tôi cùng đi thụ huấn quân sự chín tuần ở Quang Trung dành cho Giáo chức cấp 3, khóa 6/68 DBTĐ. Nơi đây tôi có dịp gặp Hoàng thường xuyên hơn, cũng chỉ mầy tao chuyện quân trường mà chẳng nói gì đến văn chương chữ nghĩa. Hoàng có nhiều bạn, anh có vẻ được đồng nghiệp nể trọng và thích kết thân dầu anh ít nói. Tướng  cao, ốm, đẹp trai, tóc dầy bồng bềnh, anh có dáng của một nghệ sĩ với nét mặt lúc nào cũng như đăm chiêu lo lắng, có khi ngồi bên nhau cả bọn chục đứa, tôi ít nghe Hoàng nói, vậy mà sao bạn bè vẫn thích. Có lẽ từ thái độ tự tin của anh trong lời nói, trong cử chỉ vung tay hay cả trong thái độ dứt khoát đứng dậy trước, bước ra khỏi sự ồn ào của nhóm.

Sau thời gian thụ huấn quân sự, chúng tôi gần gũi nhau hơn. Thỉnh thoảng có ghé nhà Hoàng rút canh xì phé còm giữa những đồng nghiệp cùng lứa tuổi. Vài lần bạn bè rủ rê vào quán La Pagode, để nghe những nhà văn thời thượng lúc đó bàn tán chuyện văn chương Tây phương hay tình hình văn học Sàigòn. Tôi nghe mà không thấm về văn chương đương thời vì còn mãi mê với chuyện văn chương Nam Bộ 1945-1954, nên chuyện bàn luận ở đây chỉ vào tai nầy lọt qua tai kia. Công việc viết lách của Hoàng và các bạn văn buổi đó tôi đón nhận trong lơ đãng, hờ hững hờ…

Chúng tôi ít liên lạc từ khi tôi đổi đi trường khác. Mãi cho đến tháng tư đen quốc nạn đổ lên đầu dân Việt, bạn bè tứ tán lao đao. Trong thời xa cách đó, thỉnh thoảng tôi theo Đặng Phùng Quân đến La Pagode, thấy Hoàng đã ngồi đó với nhiều người, chỉ trao đổi bâng quơ “mầy lúc nầy khỏe không, thầy đồ Nho?” Tôi được gọi là Đồ Nho để phân biệt với các bạn văn trong nhóm của Hoàng là Đồ Tây như Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Quốc Trụ, Hoàng Ngọc Biên, và có thể thêm Nguyễn Đình Toàn. Những nhà văn đương làm mưa làm gió trên văn đàn Sàigòn lúc đó với phong cách văn chương mới theo kiểu viết của nouveaux romans hay anti roman. Họ viết với nhiều đoạn phân tích nội tâm thiệt tỉ mỉ, câu văn phá cách, không cần theo văn phạm thường, nhân vật đi vào chiều sâu tâm hồn, những sinh hoạt, hành vi  của nhân vật chỉ là thứ yếu.
Tôi xa lạ với loại văn chương nầy, nói rõ hơn là tôi không thấu đáo nó nên không mấy thích khi thưởng thức, nói gì đến sáng tác kiểu đó. Và tôi đứng ngoài việc sáng tác văn nghệ, chỉ quan sát bạn bè mình vẫy vùng với bút mực. Hoàng ở trong nhóm đó trong một chừng mực nhứt định. Anh được sự chú ý của người đọc dầu viết ít, đước coi là một tác giả thong minh, có chiều sâu tư tưởng.

Thời cuộc đẩy chúng tôi đi xa hơn vào dòng xoáy đảo điên của đất nước, tôi vượt biên qua Mỹ và Hoàng cũng lửng thửng sau đó vài năm, định cư ở miền Đông với gia đình, tôi gởi thơ chia vui với bạn và mách nước người viết như Hoàng nên đến vùng Sàigòn Nhỏ của CA, nơi đó anh sẽ có dịp phát triển tài năng bằng viết lách hay làm việc lien quan xa gần đến báo chí. Và bạn tôi đã về làm việc suốt thời gian dài cho công ty Người Việt, một thời gian mà sau nầy tôi nghĩ là uổng phí đối với một nhà văn vì phải bận bịu những chuyện chuyên môn ngoài văn chương. Thời gian nầy Hoàng chẳng in được bao nhiêu quyển. Tâm sự với tôi, Hoàng cũng tỏ ra là tiếc mình bỏ lỡ đi những tháng ngày đáng lẽ nên viết vì còn nhiều sức sáng tạo. Bây giờ thì hết rồi. Tao muốn buông thả hết mọi chuyện, kể cả đời sống nầy.

Câu nói như tiếng thở dài, tôi nghe mà thương bạn quá. Tôi không hiểu tại sao bạn mình lại thả dốc nhanh đến như vậy? Tôi hỏi gặng “Chán đời à?”  “Không, tao vẫn vậy, vẫn sống và làm việc của đời, nhưng không coi trọng cái đời của mình, chẳng quí nó nữa”. Anh hờ hững nhấn mạnh. Nếu bây giờ ngã ra chết liền, tao vẫn không có gì phàn nàn, không tiếc rằng đã bỏ cuộc đời quá sớm. Đời sống có những cái kỳ hoặc của nó. Giải quyết cách nào cũng làm cho mình đau lòng vì không bao giờ mình vừa ý.” Hình như Hoàng triết lý ngay cả trong đời sống thường nhật. Và rất nhạy cảm. Tôi nhìn dáng đi của anh, lửng thửng, nhận ra ngay được trong đám đông với cái áo thung và quần Jean xanh muôn thuở.

Nhìn mái tóc bạc trắng của bạn gần đây, bạc như những nhà hiền triết nhưng vẫn còn bồng bềnh như một nghệ sĩ, dáng gầy gò hơn trong chiếc ghế rộng thinh, tôi cảm giác Hoàng cô đơn ngay với chính mình!

Trong một truyện ngắn mới đây, truyện Vô Đề, in trong tập “Quê Hương Vụn Vỡ” tôi đã lấy hình ảnh và những phát biểu của Hoàng, nhào nặn với hình ảnh một nhà văn khác để tạo nên nhân vật Ngữ. Thế giới chung quanh cung cấp cho ta muôn ngàn hình ảnh, nhà văn nào dùng nó nên cám ơn đời và cám ơn nhân vật cụ thể đã cho ta chi tiết đó.

Trong số năm mươi truyện ngắn của tôi chỉ có một truyện viết cách nay hơn hai mươi năm tôi có lời đề tặng ba người bạn mình là Đặng Phùng Quân, Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng. Những người bạn văn thân thiết cho tôi tấm gương đã đi hết đời mình với văn chương. Với sự chân thành tha thiết, không lợi dụng văn chương, coi nó là phương tiện áo cơm, buông thả.

Truyện của Hoàng khó đọc, ta không thể nuốt trơn tru một mạch như những tác phẩm lem nhem, làm bội thực người đọc. Các nhân vật tiêu biểu trong ngòi viết của anh cũng khó mà nhận dạng được ở ngoài đời. Đó là những con người lửng thửng như tác giả của nó, đứng trong đời nhưng bất cần đời, giải quyết những vấn đề coi như thiệt là quan trọng nhưng với cử chỉ hững hờ, như bất cần…

Tác phẩm văn chương lúc nào cũng nằm một trong hai đối cực: loại khó nuốt và loại dễ tiêu. Loại dễ tiêu thường xuyên được đương thời nhắc đến, luôn luôn là đa số, kể về độc giả lẫn số lượng in ấn.

Nhưng loại khó nuốt bao lâu nay được giới nghiên cứu coi chính nó là tác nhân của sự tiến bộ văn hóa của dân tộc.

Bạn tôi là cây viết loại đó. Viết với thái độ nghiêm chỉnh thận trọng, nhưng với tâm trạng lửng thửng, như anh đã lửng thửng trong cõi đời…

Nguyễn Văn Sâm
(Victorville, CA May 09-2012)

Tưởng Niệm Anh Đặng Thành Danh PKy 64-71

posted Jul 8, 2016, 9:09 PM by Van Duong   [ updated Jul 9, 2016, 6:34 PM ]



PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, NGƯỜI ĐẦU TIÊN PHÁT HUY NỀN VĂN HỌC CHỮ QUỐC NGỮ VIỆT NAM.

posted Jul 25, 2012, 3:13 PM by Van Duong   [ updated Jul 25, 2012, 3:13 PM by Mao Dang ]

Nhớ Cụ Petrus Ký

 

Nổi danh bác học khắp xa gần

Câu đối ghi lời cụ giải phân

" Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm "

Chăm lo tiếng Việt chan tình nghĩa

Gìn giữ tục Nam nối tín nhân

Khiêm tốn chân thành không vụ lợi

Tấm lòng tha thiết sống vì dân

 

Trầm Vân

 

        

 

PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, NGƯỜI ĐẦU TIÊN PHÁT HUY NỀN VĂN HỌC CHỮ QUỐC NGỮ VIỆT NAM.

        

        Đối với thế giới, vào cuối thế kỷ 19, sự nghiệp văn học vĩ đại của Petrus Trương Vĩnh Ký đã nâng ông lên địa vị nhà bác học, và được liệt vào sổ vàng của (18) mười tám nhà danh nhân thế giới  (Dix Huit Sommites Culturelles et Scientifiques du Monde, 1873 - 1874). Riêng với dân tộc Việt Nam, ông đã chủ trương hòa hợp hai nền học thuật văn hóa Đông Tây. Ông có công phát huy nền văn học chữ quốc ngữ, một loại chữ mới, phổ thông hiện đại, để thay thế cho loại chữ Hán-Nôm. Cùng với công trình biên khảo trước tác của ông đã được các nhà phê bình văn học sử nước ta nhìn nhận, và ca ngợi như một ngôi sao sáng, trên vòm trời văn hóa Việt Nam. Ông còn được liệt vào“Thất Tinh Hội Đông Phương” mà tờ “Courier de Saigon” thời bấy giờ đã viết.  Do đó, Ông rất xứng đáng được mọi người  tôn kính và tưởng nhớ.

        1- TIỂU SỬ: Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898) thường được gọi là PETRUS Ký, tự Sĩ Tải,  sinh năm 1837, Đinh Dậu, vào năm Minh Mạng thứ 18, tại Cái Mong, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (sau thuộc tỉnh Kiến Hòa, hay BếnTre). Ông mất vào năm 1898, Mậu Tuất, vào năm Thành Thái thứ 9. Ông có tư chất rất thông minh, tinh thông Pháp văn, Hán văn,  và nhiều thứ tiếng khác, tất cả 27 thứ ngôn ngữ và văn tự trên thế giới, vào cuối thế kỷ 19. Năm 1863, ông được cử làm thông ngôn trong sứ bộ Phan Thanh Giản, công cán tại Pháp. Sau đó,  ông được bổ nhiệm giáo viên, rồi đến đốc học Trường Thông Ngôn (Collègge des Interprêtes). Sau đó, ông được bổ nhiệm giáo sư Trường Cai Trị (Collège des Stagières) tại Sàigòn. Năm 1886, Toàn Quyền Paul Bert triệu ông ra Huế sung vào Cơ Mật Viện, để giúp việc ngoại giao giữa chính phủ Pháp và Nam triều.  Không lâu, ông về hưu tại Nam kỳ, để chuyên lo trước tác, và phổ biến chữ Quốc Ngữ, cho đến khi ông mất vào năm 1898.

 

        2- VĂN NGHIỆP: Ông đã viết rất nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm,Quốc Ngữ,và Pháp văn như sau:

        -LOẠI SÁNG TÁC: 1-Chuyện Đời Xưa (1866), 2-Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất Hợi (1881), 3-Chuyện Khôi Hài (1882),  4-Bất Cượng Chớ Cượng Làm Chi(1882), 5-Phép Lịch Sự Của Người An Nam (1883), 6-Kiếp Phong Trần (1885), 7-Sách Dạy Quốc Ngữ, 8-Sách Dạy Chữ Nho,  9-Grammaire de la Langue Annamite(1883), 10-Petit Dictionnaire Francais - Annamite (1884), 11-Cours d'histoire Annamite (1875-1877), 12-Miscellanées (1888-1889),13-Voyage au Tonkin en 1876,....

        - LOẠI DỊCH THUẬT: Dịch âm từ chữ Nôm ra chữ Quốc Ngữ: 14-Kim Vân Kiều (1875), 15-Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (1875), 16-Gia Huấn Ca của Trần Hy Tăng (1882),  17-Nữ Tắc (1882),  18-Lục Súc Tranh Công (1887), 19-Phan Trần Truyện (1889), 20-Lục Vân Tiên Truyện (1889).  Dịch sách chữ Nho gồm có: 21-Tam Tự Kinh (1887), 22-Đại Học(1889),  23-Trung Dung (1889),  24-Minh Tâm Bảo Giám (1891 - 1893).

        

        3-GIỚI VĂN HỌC V.N. NHẬN ĐỊNH VỀ PETRUS KÝ:

          

        Theo Ông Ưng Hòe Nguyễn Văn Tố nhận định về PETRUS Ký: “-Sự nghiệp, thân thế của PETRUS Trương Vĩnh Ký có thể tóm lại bằng ba tiếng: -Bác Học, -Tâm Thuật, -Khiêm Tốn. 

          

        Riêng với nền văn chương chữ Quốc Ngữ, vai trò đặc biệt của PETRUS Ký đã được Linh Mục Thanh Lãng nhận định như sau: “-Với PETRUS Ký mới thật sự khai mở một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên văn xuôi. Vai trò “Khai đường mở lối “ của PETRUS Ký được giáo sư Phạm Thế Ngũ nói rõ hơn trong quyển “Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên” là đã đề xướng lên những công việc mà rồi nhóm Nam Phong ngoài Bắc tiếp tục như: phiên âm văn Nôm cũ, khảo cứu về văn hóa và chế độ nước nhà, sưu tầm những ca dao, tục ngữ, cổ tích của ta, dịch thuật ngoại văn ra quốc ngữ,.. “

           

         Trong quyển 1, “Nhà Văn Hiện Đại”, tái bản lần 3, tại Sàigòn, 1960, tác giả Vũ Ngọc Phan đã viết phê bình PETRUS Ký như sau: “-Như vậy khoảng 35 năm trời, Trương Vĩnh Ký đã cho ra đời biết bao nhiêu là sách, ấy là mới chỉ kể những quyển chính thôi. Mới đây, ông xuất bản những sách bằng chữ quốc ngữ, phiên dịch ở những sách chữ Nôm ra. Hồi đó ông cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những truyện phổ thông làm lợi khí cho quốc ngữ được lan rộng trong dân gian, không như bây giờ chúng ta dùng quốc ngữ làm lợi khí để truyền bá tư tưởng và học thuật,...Nếu xét tất cả những sách rất khác nhau do Trương Vĩnh Ký biên tập, dịch thuật, sáng tác và xuất bản trong thời gian 1863 - 1898, người ta thấy rõ ông là một nhà bác học, có óc tổ chức và có phương pháp, chứ không còn phải là một nhà văn như những nhà văn khác.”

Theo tác giả Vũ Đình Trác, trong quyển “Công Giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc” 1996, Orange County, California, đã viết về PETRUS Ký: “...-Ông xứng đáng là một chiến sĩ văn học đã đưa chữ Quốc Ngữ lên đài danh dự với một địa vị vững chắc. Ông dịch thuật và sáng tác thơ văn quốc ngữ để truyền bá học thuật, giáo dục và canh tân nếp sống của người dân.  Văn tự quốc ngữ từ đây sẽ trở thành văn tự chính thức của Việt Nam, giúp dân ta đi vào quỹ đạo của văn tự thế giới.”

          

        Trong quyển “Trường PETRUS Ký Và Nền Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam”, tác giả Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Nguyên Thứ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên trước 4/1975, và là Cựu Học Sinh, Cựu Giáo Sư, Cựu Hiệu Trưởng Trường PETRUS Ký, đã nhận định trong phần mở đầu về thân thế và sự nghiệp của PETRUS Trương Vĩnh Ký như sau:         

 “... Nói đến PETRUS Trương Vĩnh Ký là phải nói đến vai trò “Khai Đường Mở Lối” của ông trên các địa hạt sau đây:         

        1-Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác.

        2-Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho, và       

        3-Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ của Nho gia. PETRUS Ký đã hoàn tất mỹ mãn vai trò “Khai Đường Mở Lối” của ông nhờ ở sự gặp gỡ của những yếu tố đặc biệt nầy: Bản chất thông minh hiếu học của cá nhân ông, khả năng bẩm sinh về ngôn ngữ, môi trường học hỏi, và hoàn cảnh xã hội miền Nam Việt Nam hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX.  Tính hiếu học, khả năng bẩm sinh và môi trường học hỏi đã giúp ông có một quá trình học vấn và một vốn liếng kiến thức khác hẳn các nhà nho đương thời như Nguyễn Khuyến hay Trần Tế Xương chẳng hạn. Khi cái vốn hiểu biết đó được dùng để khảo cứu biên soạn và xuất bản thì hoàn cảnh xã hội bên ngoài đã trở nên vô cùng thuận tiện để giúp ông thành công tốt đẹp. Đây là lúc Pháp bắt đầu đô hộ miền Nam và đang bành trướng thế lực xâm lăng ra miền Bắc và miền Trung. Cùng lúc với sự thất trận và mất chủ quyền về phía triều đình Huế, nền học thuật cũng như sự ngự trị của nho gia trong xã hội cũ cũng hoàn toàn sụp đổ theo, trước hết là ở miền Nam vào cuối thế kỷ thứ XIX.  Đó là điều kiện thuận tiện  để xây dựng và phát triển nền học thuật mới. “

          

        Ngoài ra, trong phần kết luận của quyển “Trường PETRUS Ký và Nền Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam”, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm còn viết: “-Cuộc đời tận tụy làm việc cũng như công trình biên khảo qui mô phong phú của PETRUS Trương Vĩnh Ký đã cho thấy lý tưởng giáo dục và văn hóa của ông.  Lý tưởng đó là đào tạo một lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học và kỹ thuật của nền văn minh Âu Tây, đồng thời, cũng nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền của Đông phương, vừa có tâm hồn khai phóng cởi mở vừa có tinh thần dân tộc vừa biết tôn trọng giá trị của con người dù bất cứ ở trong thời đại hay xã hội nào.

          

        Lý tưởng đó đã được thể hiện trong sự nghiệp văn chương của ông tiếp nối bởi hai tờ báo Đông Dương và Nam Phong tạp chí trong lãnh vực văn hóa. Trong địa hạt giáo dục, lý tưởng đó cũng đã được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua Đệ Nhị Cộng Hòa.

          

        Trường trung học được cái vinh dự mang tên PETRUS Ký từ khi ra đời đã mang lý tưởng giáo dục đó biểu lộ trong hai câu đối của giáo sư Ưng Thiều ghi khắc trước cổng trường:

                      “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,

                       Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”

          

        Từ ngày được thành lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi (50) năm hoạt động, trường PETRUS Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam.

       

Tác giả Âu Vĩnh Hiền (trích Hồn Quê)

TRƯỜNG PETRUS KÝ - Nguyễn Thanh Liêm

posted May 6, 2012, 3:33 PM by Van Duong   [ updated Jul 10, 2016, 7:33 PM by Mao Dang ]

     
Tôi ra đời trong một làng quê ở tỉnh Mỹ Tho. Ngay từ lúc còn học ở trường Tiểu Học tỉnh, tôi đã được nghe ba tôi và chú tôi nói nhiều về trường Petrus Ký. Thấy các anh học sinh trường College Le Myre de Vilers với bộ đồng phục trắng có gắng phù hiệu trông rất uy nghi tôi đã nể phục các anh và ngưỡng mộ trường college này lắm rồi. Nhưng chú tôi bảo là Petrus Ký còn to hơn, quan trọng hơn Le Myre de Vilers nhiều lắm. Riêng ba tôi thì hình như lúc nào cũng nhắc là “nữa lớn con sẽ học trường Petrus Ký.” Thành ra trong đầu óc non nớt của tôi lúc đó trường Petrus Ký là cái gì vĩ đại lắm, nó lớn lao quan trọng vô cùng. Tôi cũng nghe một người bà con bảo là “học Petrus Ký ra là làm cha thiên hạ đấy.” Lời phát biểu chói tai đó thật ra cũng có phần đúng đối với thế hệ của tôi và đối với người dân Miền Nam thời đó. Bởi vì cho đến năm 1945, sau ngày Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai chấm dứt, cả Miền Nam nước Việt chỉ có 4 trường Trung Học công là Petrus Ký, Gia Long, Le Myre de Vilers (Nguyễn Đình Chiểu), và College de Cần Thơ (Phan Thanh Giản), mà trong 4 trường đó chỉ có trường Petrus Ký là trường duy nhất có bậc đệ nhị cấp (tức là lycée hồi đời Tây). Dù ra đời trễ nhất trường Petrus Ký vẫn là trường lớn nhất, cao nhất, và nỗi tiếng nhất ở trong Nam. Thời xưa, có được bằng Tiểu Học đã là oai lắm đối với dân quê, có được bằng Thành Chung thì kể như trí thức lắm rồi, thuộc hạng thầy thiên hạ, huống chi là có được bằng Tú Tài. Quí hóa vô cùng, có mấy ai có được bằng này. Vậy mà trường Petrus Ký lại sản xuất ra số ít người quí giá đó. Bởi thế nên phụ huynh học sinh, những người hiểu rõ giá trị của giáo dục, nhất là những người có con trai, ai ai cũng đều mong muốn cho con mình được vào Petrus Ký cả.                                                                                                                                 

Nhưng khi lên trung học thì tôi vào Le Myre de Vilers chớ không phải Petrus Ký vì thời cuộc lúc này và vì hoàn cảnh gia đình không cho phép. Khi xong đệ nhất cấp, tôi mới xin chuyển về trường Petrus Ký và từ đó sống ở Sài Gòn luôn. Được vào Petrus Ký là kể như ước mơ đã thành, tôi mừng không thể tả, nhưng người vui nhất chắc chắn là ba tôi và kế đó là nhưng người thân trong gia đình tôi. “Ngày đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, tôi có cảm giác như tôi đang được vươn mình lên để lớn thêm và để mở rộng tâm hồn cho khoáng đạt, cho thích nghi với với cái khung cảnh uy nghi đồ sộ của ngôi trường. Khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật tôi nói thầm trong lòng rằng ở trên đời này chắc chưa có trường học nào có được cái kỷ luật chặt chẽ và cái không khí trang trọng như trường này. Nhất là khi vừa qua khỏi cổng vào sân trong, nhìn lên giữa hành lang chính (préau) thấy thầy hiệu trưởng Phạm Văn Còn cùng với thầy giám học (thầy Huấn) và thầy tổng giám thị (thầy Trương) oai vệ đứng đó tôi càng thấy cái không khí nghiêm trang của ngôi trường hơn, một sự nghiêm trang mà tôi chưa hề thấy được ở những ngôi trường nào tôi đã học qua.” (TTHPK tr. 115-116).  So với Le Myre de Vilers, trường Petrus Ký lớn hơn nhiều lắm, cũng ra đời sau Le Myre de Vilers lâu lắm. Họa đồ xây cất trường do một kiến trúc sư người Pháp là ông Hebrard de Villeneuve vẽ hồi năm 1925, và trường được khởi công xây cất liền sau đó để hoàn tất vào năm 1927. Niên khóa đầu tiên khai giảng hồi tháng 9 năm 1927 với bốn lớp học sinh chuyển từ Chasseloup Laubat sang. Lúc này trường mang tên Collège de Cochinchine. Vị hiệu trưởng đầu tiên là ông Banchelin. Năm sau, 1928, Thống Đốc Nam Kỳ là Blanchard de la Brosse lấy tên nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký đặt tên cho trường, biến trường này thành lycée (trường Đệ Nhị Cấp) và cho đặt tượng đồng bán thân Petrus Ký vào giữa sân trường. Lễ khánh thành tượng đồng Petrus Ký và trường Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký được đặt dưới sự chủ tọa của Tống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse. Trường nằm ở giữa hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, trên khoảng đất rộng mênh mông với đầy đủ cung cách của một khu học đường trang nghiêm yên tịnh. Tất cả đất đai, và phần lớn cơ sở trong khu vực đóng khung bởi bốn con đường Cộng Hòa, Thành Thái, Trần Bình Trọng và Nguyễn Hoàng, đều thuộc lãnh thổ của Petrus Ký. Trường có sân vận động riêng của trường, sân vận động Lam Sơn. Nhưng vì sự phát triển nhanh của nền giáo dục trong thập niên 1950 khi nước vừa độc lập nên một số cơ sở và đất đai của trường Petrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để xài cho những cơ quan giáo dục khác. Trường Quốc Gia Sư Phạm, trường Trung Tiểu Học Trung Thu dành cho con em Cảnh Sát, Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục đều được xây trên phần đất của trường Petrus Ký. Ba dãy lầu lớn của trường Petrus Ký được dùng cho Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm. Nhà Tổng Giám Thị Petrus Ký được dùng làm Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ, và một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số các viên chức Bộ Giáo Dục. Tuy bị cắt xén nhiều nhưng trường Petrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam Việt Nam.

(Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers tuy kỷ luật cũng khá chặt chẽ, tuy cũng có nhiều biện pháp mạnh trừng phạt học sinh như cấm túc, đuổi học, vv...nhưng vẫn không có cái không khí trang nghiêm uy nghi của trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers khi cổng trường mở thì học sinh cứ đi thẳng vào trước lớp học của mình chờ tới giờ sắp hàng trước cửa lớp đợi thầy đến cho phép là vào lớp. Ở Petrus Ký, sau khi vào cổng học sinh phải xếp hàng bên hông trường trước. Xong rồi mới theo lệnh giám thị tiến vào bên trong xếp hàng chờ trước cửa lớp một cách rất trật tự. Ở Le Myre de Vilers học sinh không thấy ông hiệu trưởng đâu, nhưng ở Petrus Ký, khi vào bên trong trường là học sinh sẽ thấy ngay ban giám đốc đứng giữa hành lang chính nhìn xuống toàn thể học sinh của trường. Tôi chưa hề chào cờ ở trường Le Myre de Vilers bao giờ. Nhưng ở Petrus Ký thì học sinh phải chào cờ mỗi sáng Thứ Hai. Cảnh chào cờ bao giờ cũng rất nghiêm trang và long trọng. Ở đây lúc nào bạn cũng cảm thấy như được ban giám đốc chiếu cố tới luôn).

Muốn được vào học trường Petrus Ký người đi học phải chứng tỏ được rằng mình thuộc thành phần ưu tú, xuất sắc, có thể là ở trong nhóm từ 5 đến 10 phần trăm đầu của những người cùng lứa tuổi. Kỳ thi tuyển vào Petrus Ký là kỳ thi rất gay go cho nhiều học sinh, xưa cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Petrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi. Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Petrus Ký.  Quyển Kỷ Yếu của trường Petrus Ký niên khóa 72-73 ghi thành tích học tập của niên khóa trước như sau:

TÚ TÀI II

Ban A: Dự thi 101, trúng tuyển 101 với 2 Ưu, 10 Bình, 25 Bình Thứ, tỷ lệ 100%.

Ban B: Dự thi 419, trúng tuyển 419, 11 Ưu, 53 Bình, 114 BT, tỷ lệ 100%

Ban C: Dự thi 52, trúng tuyển 52, với 7 BT, tỷ lệ 100%

Đậu nhiều và nhiều người đậu cao, đó là thành tích học tập của học sinh Petrus Ký từ xưa đến giờ.

Trường Petrus Ký đối với tôi là một trường mẫu, lý tưởng, là tấm gương cho các trường khác noi theo. Lúc còn học ở Le Myre de Vilers bọn học sinh chúng tôi luôn lấy các bạn Petrus Ký làm mẫu trong mọi hoạt động. Bởi vậy nên khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, tôi quyết định lấy Petrus Ký làm ưu tiên một trong việc chọn lựa nhiệm sở của tôi. Tôi được về Petrus Ký theo ý muốn. Ở thời đại của tôi được bổ nhiệm về trường Petrus Ký và một số các trường lớn khác ở Đô thành thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Nói chung thì phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian. (Giáo sư Nguyễn Thành Giung sau làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Lược sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Thuật sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sau làm Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên). Đặc biệt là từ niên khóa 1964-65 giáo sư Petrus Ký giữ vai trò quan trọng trong việc soạn đề thi cho các kỳ thi trên toàn quốc. Họ cũng là những người đem bài thi trắc nghiệm khách quan (objective tests) thay dần vào chỗ những bài thi theo lối luận đề (essay). Một số giáo sư khác đã có những công trình nghiên cứu soạn thảo, viết sách giáo khoa rất có giá trị như giáo sư Phạm Thế Ngũ, giáo sư Vũ Ký, vv...Phần đông đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường. Thầy Đảnh, thầy Thái, thầy Ái, thầy Minh, thầy Hạnh, thầy Đính, thầy Nam... thầy nào học trò cũng thương cũng mến và thầy nào cũng hết lòng lo lắng cho học sinh, cũng như lo lắng cho trường. Mến thương học trò, mến thương trường Petrus Ký, đó là điều mà phần đông anh chị em giáo sư Petrus Ký đều cảm thấy. Cho nên năm 1962 khi tôi bị đưa đi làm hiệu trưởng ở Bình Dương tôi thấy rất khổ tâm khi phải rời khỏi trường. Cũng may là năm sau tôi lại được trở về Petrus Ký không phải để đi dạy lại mà để làm hiệu trưởng trường này.

Tôi là hiệu trưởng đời thứ 13 của trường mặc dầu trước tôi chỉ có 11 ông hiệu trưởng (vì ông Valencot làm hiệu trưởng tới hai lần cũng như giáo sư Trần Ngọc Thái sau này). Từ 1927 cho đến năm 1975 trường có tất cả 17 vị hiệu trưởng. Trong số 17 ông hiệu trưởng này, có 5 người Pháp (Banchelin, Valencot, Andre Neveu, Le Jeannic, và Taillade) và 12 người Việt Nam (Lê Văn Kim, Phạm Văn Còn, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Lược, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thái, Trần Văn Thử, Trần Văn Nhơn, Bùi Vĩnh Lập, và Nguyễn Minh Đức). So với những vị hiệu trưởng trước, tôi là người quá trẻ khi đảm nhận chức vụ hiệu trưởng trường này. Lúc đó tôi mới có 30 tuổi trong khi những vị hiệu trưởng trước tôi không có vị nào dưới năm mươi tuổi. Tất cả đều là bậc thầy của tôi. Nhưng cũng từ tôi trở đi thì hiệu trưởng Petrus Ký đều còn nhỏ tuổi cả (trừ ra giáo sư Trần Văn Thử), tất cả là đàn em của tôi về phương diện tuổi tác. Lớp trẻ chúng tôi tuy có rộng rải, cởi mở hơn thế hệ lớn tuổi nhưng tất cả đều không xa rời truyền thống tốt đẹp của trường Petrus Ký. Kỷ luật, trật tự vẫn đứng hàng đầu. Chọn lựa kỷ giáo sư, chọn lựa kỷ học sinh, thúc đẩy các hoạt động trong cũng như ngoài học đường, vận động mọi phương tiện, mọi nguồn yểm trợ để phát triển trường sở, thăng tiến việc học của học sinh, làm cho học sinh đậu nhiều và đậu cao trong các kỳ thi, đào tạo người giỏi cho non sông tổ quốc, đó là những điều chính yếu mà ông hiệu trưởng Petrus Ký nào củng cố làm. Ông hiệu trưởng nào cũng biết là trường mình là trường rất nỗi tiếng, rất được sự chú ý của chính quyền cũng như của dân chúng. Ông hiệu trưởng nào cũng biết trường mình là trường được giới giáo dục coi như là trường kiểu mẫu của trường trung học ở miền Nam tự do và là trường luôn được sự chú ý của mọi người và mọi giới. Những nhân vật hàng đầu của chính phủ thường đến thăm viếng trường, từ Tổng Thống, Chủ Tịch Quốc Hội đến các Tổng Bộ trưởng, đến các quốc khách từ các quốc gia khác đến. Ai cũng biết trường mình là trường đã từng đào tạo rất nhiều nhân vật quan trọng, từng giữ những vai trò lãnh đạo trong chánh quyền bên này hay bên kia, từng đóng góp vào việc làm nên lịch sử cho xứ sở.

Và trên hết tất cả ai cũng hiểu rằng trường mình hết sức hãnh diện mang tên một nhà bác học, một nhà văn hóa có công rất nhiều đối với việc phổ biến nền học thuật mới ở Việt Nam hồi thế kỷ thứ XIX. Đó là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Nói đến ông là người ta phải nhớ đến vai trò “khai đường mở lối” của ông trên các địa hạt sau đây:

1. Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác.

2. Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho,

3. Làm báo theo đúng mẫu mực một tờ báo, và

4. Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ kỹ lỗi thời của nho gia.

Qua công trình soạn thảo, trước tác của ông ta thấy ông là một nhà văn hóa giáo dục có tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng, ba đặc tính quan trọng mà nền giáo dục chân chính và tiến bộ nào cũng cần phải có. Lý tưởng của ông là đào tạo được lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học kỹ thuật của văn minh Aâu Tây đồng thời nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền Á Đông, vừa có tâm hồn khai phóng, cởi mở, vừa có tinh thần dân tộc, vừa biết tôn trọng giá trị con người dù bất cứ trong xã hội nào. Lý tưởng đó được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua Đệ Nhị Công Hòa.

Trường trung học được cái danh dự mang tên Petrus Trương Vĩnh Ký từ khi ra đời đã mang lý tưởng giáo dục đó biểu lộ trong hai câu đối ghi khắc trước cổng trường:                                                         

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”

Từ ngày được thành lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi năm hoạt động, trường Petrus Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở Miền Nam Việt Nam.


Nguyễn Thanh Liêm

Học sinh cũ, Giáo sư cũ, Hiệu trưởng cũ

Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký

 

CÔ SÂM

posted Mar 11, 2012, 1:51 PM by Van Duong   [ updated Mar 11, 2012, 1:51 PM by Mao Dang ]

CÔ  SÂM

Kính thưa cô.

Nghe tin anh Sơn, một học cựu học sinh L.Petrus Ký, học trò của cô, vừa về thăm quê hương và đến thăm cô nhưng đã trễ, chỉ được thắp nhang trước bàn thờ của cô, bản tin ngắn ngủi này đến với em vào chiều tối Thứ Bẩy 29 tháng 10 năm 2011 đã khiến em ngưng tất cả mọi công việc để nhớ về cô, để chọn màu mực xanh viết về cô ở tuổi thanh xuân và em mới chỉ là một học trò lớp Đệ Thất của cô.

Thưa cô! Đã 56 năm rồi, hơn nửa đời người, trải qua biết bao thăng trầm từ một học sinh rời trường L.Petrus Ký rồi vào Võ Bị, 13 năm lính, 10 năm tù cải tạo, hơn 20 năm lao đao lận đận tỵ nạn xứ người, nay được biết tin cô đã quy tiên em bỗng cảm thấy một nỗi buổn man mác. Em thú thật với cô là không chảy nước mắt khi nghe tin cô mất, nhưng nếu em nói dối là có khóc như năm xưa đã nói dối cô khi không thuộc bài là cô biết ngay em nói láo, lửa thầy, làm sao có thể nói dối được với ngưởi đã khuất. Nhưng chắc ở chốn bình yên nào đó cô đang chứng giám lòng thành của cậu trò nhỏ năm xưa đang nghĩ nhiều về cô, nhớ và viết những kỷ niệm về cô.

Nếu có ai hỏi họ của cô là gì thì em quên rồi mà chỉ nhớ tên cô là Sâm, cô Sâm dậy môn Sử Địa lớp Đệ Thất niên khóa 55-56, và nhà của cô ở khu cư xá giáo sư  phía sau trường, gần phía đường Nguyễn Hoàng, em biết được điều đó là do những lẩn tập thể dục với thầy Bích ở sân vận động thì thấy cô đi về hướng đó chứ em đâu có học giỏi để được cô sai ôm tập đem theo về nhà để cô chấm bài. Em cũng nhớ các cô Dung, cô Hồng, cô Ngà v.v.. và thầy toán hình học Nguyễn Văn Binh, thầy Pháp Văn Phạn Văn Ba, thầy Đảnh, thầy Đính lý hóa, thẫy Võ Trọng Phỏng, thầy Đồ và thầy Thái dậy Anh Văn, thầy Tạ Ký, thầy Thái Chí, thầy Trần Thượng Thủ tức thầy TTT mà thầy thường khôi hài là trong túi thầy lúc nào cũng có cái lược v.v.. Nhưng mỗi khi gặp bạn cùng lớp, nhắc về thầy cũ trường xưa thì vị giáo sư thường được các em nhắc đến đầu tiên là “Cô SÂM” dậy Sử Địa, bởi vì tuy cô còn trẻ, còn độc thân, chỉ là vai chị của các em học sinh, nhưng cô có một tấm lòng, một tình thương của một người mẹ hiền.

“Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là học trò LPK”, tuổi 11, 12, thì biết sợ là gì đâu, cứ nghịch cứ phá nhưng khi nghe tiếng thước kẻ gõ cạch-cạch trên bàn, ngước lên thấy cô mỉm cười là đám giặc im phăng phắc, lúc đó thấy cô đẹp và dễ thương làm sao! Nay tuy đã bước vào tuổi “cổ lai y” mà nhớ về kỷ niệm xưa em vẫn cảm thấy nhỏ bé trước hinh ảnh của cô và cô là hiền mẫu của em lúc này. Hiện cô là người cõi trên, thấy hết, biết hết thì sao em dám nói dối cô được.

Có một lần thằng quỷ sứ Nguyễn Xuân Thanh ngồi bàn sau, nó lấy giấy cuộn lại rồi gài vào lưng quần em rồi quẹt diêm (quẹt) đốt, giật mình nóng quá em nhẩy lên bàn rồi kêu chí chóe, sợ muốn khóc, cô xuống lấy tay cốc-cốc nhẹ vảo đầu thằng Thanh rồi cô vỗ vỗ vai em để an ủi em nhưng em vẫn tức, đánhg lẽ cô phải tát tai, vả miệng cho xưng môi nó lên chứ, sao chỉ cốc-cốc nhè nhẹ thôi? Lúc đó em nghĩ hay là cô cũng kỳ thị Bắc Nam, cô bênh thằng Nam Kỳ con Xuân Thanh còn cô không thương thằng nhóc tì Bắc Kỳ di cư 1954 là em, sau dần dà rồi em mới hiểu cô thương tất cả, tất cà cùng là con, là gà cũng một mẹ Sâm Sử Địa.

Cô không biết chứ lúc đó em khổ lắm, sợ tụi bạn cùng lớp Nam Kỳ lắm, vì chỉ một mình em là Bắc Kỳ di cư, còn dư lại là dân Nam Kỳ quốc, em bị mặc sức làm bù nhìn cho chúng trêu chọc, em giận lắm nhưng đành nhịn rồi nhớ ghi xương khắc cốt từng tên để sau này trả thù, người quân tử 20 năm sau trả thù chưa muộn, nhưng rất tiếc là 20 năm sau, một số bọn chúng đã trở thành người “quân tử”, đám còn lại thì gặp nhau trên chiến trường còn vương khói súng thì ôm nhau cười, chỉ tay về phía trước, “kẻ thù của tao ở đằng kia, còn tao và mày là anh em là con của Cô Sâm Sử-Địa”.

Hỡi nhưng tên “quỷ ma học trò Đệ Thất B1 55-56 là Cao Hoàng Anh, Đặng Văn Ba, Ngô Văn Bê, Bửu, Cảnh, Cần, Cẩn, Chí, Chí, Chiểu, Dương, Đạt, Điện, Đởm, Đức, Hiếu, Hòa, Hoàng, Huệ, Hưng, Khoa-Lé, Khải, Khiết, Khôi, Kỵ-Chột Phạm Huỳnh Tam-Lang, Long-Trên, Long-Dưới … Thanh, Tư Xe Bò, Tư Tù-Ti v.v..tụi bay ở đâu? Những thằng đã là “quân tử” thì đến gõ cửa nhà trời thăm cô, nhựng tên còn nặng nợ trần gian, dù hiện ở trong nước hay tỵ nạn hải ngoại thì báo tụi bay biết để dâng lên cô 3 nén nhang, xin cô thương tha lổi cho chúng em và phù hộ cho các cựu học sinh LPKY cùng đệ đơn lên Thiên Quốc để đòi lại cái giấy khai sinh cho trường mẹ, trưởng Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký.

 Little Saigon 12 giờ đêm 29/10/2011.

Em vừa dâng lên Cô 3 nén nhang xong.

LPK 55-62 Captovan

1-10 of 10